Đời sống - Xã hội

Thuở khai mở tầng than, hình thành lớp thợ mỏ đầu tiên

Ngày đăng: 23/9/2026

90 năm kể từ cuộc Tổng bãi công năm 1936 là một hành trình dài với biết bao đổi thay trên những khai trường, nhưng có một giá trị vẫn luôn được gìn giữ và trao truyền qua các thế hệ thợ mỏ - đó là tinh thần “Kỷ luật và Đồng tâm”. Nếu trong những năm tháng chiến tranh, sức mạnh ấy giúp người thợ mỏ vừa sản xuất, vừa chiến đấu, giữ dòng than cho Tổ quốc, thì hôm nay đang được tiếp nối bằng kỷ luật lao động, tinh thần đổi mới, sáng tạo và quyết tâm làm chủ công nghệ. Từ những khai trường gian khó đến những mỏ than ngày càng hiện đại, các thế hệ thợ mỏ vẫn tiếp nối một hành trình không ngừng nghỉ: Khơi nguồn lực từ lòng đất, giữ vững dòng than cho nền kinh tế, góp sức xây dựng đất nước và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Những nhát cuốc khai mở tầng than

Cách đây 186 năm, những nhát cuốc khai than đầu tiên ở vùng núi Yên Lãng dưới triều Nguyễn đã mở đầu một dấu mốc quan trọng của ngành khai thác than Việt Nam. Theo những tầng than được khai mở, lớp lớp người lao động tìm về Vùng mỏ, từ những dân phu, người làm thuê dần hình thành đội ngũ công nhân đông đảo.

Chính trong những năm tháng lao động khắc nghiệt và đấu tranh chống áp bức, họ đã gắn kết thành một lực lượng có tổ chức, có ý thức đoàn kết, để rồi hun đúc nên tinh thần “Kỷ luật và Đồng tâm” - giá trị đã trở thành truyền thống của các thế hệ công nhân Vùng mỏ.


Phiên bản bức chỉ dụ của vua Minh Mạng được trưng bày ở phòng truyền thống của Công ty Than Mạo Khê. Ảnh tư liệu

Nhắc đến Quảng Ninh là nhắc đến vùng than, đến những thế hệ thợ mỏ đã gắn cuộc đời mình với những tầng than sâu trong lòng đất. Nhưng trước khi trở thành một trung tâm khai thác than lớn và một trong những cái nôi của giai cấp công nhân Việt Nam, nơi đây đã trải qua một hành trình dài, bắt đầu bằng những công trường khai than nhỏ bé, hoàn toàn dựa vào sức người.

Một dấu mốc đặc biệt là ngày 6 tháng 12 năm Minh Mạng thứ 20, tức ngày 10/1/1840, vua Minh Mạng chuẩn y sớ tấu của Tổng đốc Tôn Thất Bật, cho phép tiến hành khai thác than tại vùng núi Yên Lãng, nay thuộc phường Mạo Khê, TP Quảng Ninh. Đây là một trong những dấu mốc quan trọng đánh dấu sự khởi đầu của ngành khai thác than Việt Nam.

Công nhân khai thác than trong những năm đầu tiếp quản Khu mỏ, năm 1954. Ảnh tư liệu

Trước và trong thời kỳ Minh Mạng, một số địa điểm thuộc vùng than Đông Triều đã bắt đầu khai thác, hình thành những công trường than đá đầu tiên. Khi ấy, việc khai thác còn hết sức sơ khai: Quy mô nhỏ, phương pháp thủ công, công cụ lao động thô sơ. Chủ khai trường phần lớn là thương nhân Trung Quốc hoặc quan lại, thổ ty địa phương, được phép khai thác trong một thời gian nhất định và phải nộp thuế cho triều đình.

Những người trực tiếp đào than lúc đó chủ yếu là dân nghèo từ nhiều vùng quê, nhất là đồng bằng Bắc Bộ, tìm đến khu mỏ kiếm việc làm. Có người còn bị bắt đi lao động không công theo hình thức phu dịch. Họ đã trực tiếp đào những đường khai thác đầu tiên, đưa những khối than từ lòng đất lên mặt đất bằng sức người. Tuy nhiên, quan hệ sản xuất tại các công trường khi ấy chưa phải quan hệ giữa người sở hữu tư liệu sản xuất và người bán sức lao động. Vì thế, một đội ngũ công nhân mỏ theo đúng nghĩa chưa hình thành.

Bước ngoặt diễn ra vào nửa cuối thế kỷ XIX, khi khu mỏ Quảng Ninh trở thành mục tiêu của tư bản phương Tây. Ngày 12/3/1883, thực dân Pháp đánh chiếm khu mỏ Quảng Ninh. Ngày 24/4/1884, dưới sự sắp đặt và ép buộc của thực dân Pháp, triều đình nhà Nguyễn làm văn tự bán khu mỏ Hồng Gai - Cẩm Phả không thời hạn cho tư bản Pháp. Đến năm 1888, khu mỏ Đông Triều tiếp tục rơi vào tay tư bản Pháp.

Công trường khai thác lộ thiên mỏ Cọc Sáu. Ảnh tư liệu

Vào cuối thế kỷ XIX, các mỏ than có trữ lượng lớn, chất lượng tốt trong khu mỏ Quảng Ninh, về căn bản đã phân chia xong cho bọn tư bản Pháp. Đây là thời kỳ thăm dò và bước đầu khai thác của thực dân Pháp với các thủ đoạn bóc lột truyền thống, chúng đã thu được những món lợi không nhỏ. Tuy phương pháp khai thác thủ công lạc hậu, song với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa giai đoạn mang từ chính quốc sang, thực dân Pháp đã bước đầu làm thay đổi việc khai thác than đá ở khu mỏ Quảng Ninh. Đó là điều kiện căn bản của sự ra đời số đông công nhân mỏ trong dây chuyền sản xuất công nghiệp, đó là lực lượng tiền bối của giai cấp công nhân khu mỏ Quảng Ninh.

Từ những người phu mỏ hình thành lực lượng công nhân

Trong khoảng 20 năm cuối thế kỷ XIX, kể từ khi thực dân Pháp chiếm khu mỏ và đẩy mạnh khai thác, tầng lớp công nhân mỏ hiện đại đầu tiên ở Quảng Ninh bắt đầu hình thành và lớn lên. Tư liệu cho thấy, đã có trên 11.000 thợ mỏ sống và lao động tập trung tại một số địa bàn khu mỏ. Giữa xã hội thuộc địa nửa phong kiến lúc bấy giờ, đây là một lực lượng xã hội mới đang từng bước định hình.

Họ đến từ nhiều miền quê khác nhau, đại bộ phận xuất thân là nông dân. Bên cạnh cư dân bản địa còn có người từ Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình, Hải Dương, Thanh Hóa, Bắc Giang, Lạng Sơn (tên các tỉnh, thành cũ trước đây)... tìm đến khu mỏ sinh sống, làm thuê. Trước đó, họ vốn gắn với ruộng đồng, làng quê; một bộ phận nhỏ là thợ thủ công. Mất đất, mất kế sinh nhai, họ rời quê, tụ về các khai trường, hầm mỏ bán sức lao động.

Người nông dân rời ruộng đồng bước vào hầm mỏ, trở thành những người phu mỏ. Đổi lại những đồng tiền công ít ỏi là công việc nặng nhọc, điều kiện ăn ở thiếu thốn và sự áp bức của chủ mỏ. Tư liệu lịch sử đã lưu lại câu nói ám ảnh về thân phận người thợ thời ấy: “Sống làm phu mỏ, chết bỏ gốc sim!”.

Thế nhưng, cũng chính những hầm mỏ, công trường và khu lán thợ đã đưa hàng nghìn con người vốn xa lạ về sống và lao động bên nhau. Khác quê quán nhưng chung công việc, chung cảnh ngộ, cùng chịu áp bức, họ ngày càng gắn bó, nương tựa vào nhau. Từ những người lao động riêng lẻ, một lực lượng công nhân tập trung dần hình thành.


Xí nghiệp Quốc doanh Than Hồng Gai cắm cờ, treo biển trên cổng trong ngày thành lập xí nghiệp 15/5/1955. Ảnh tư liệu

Sự phát triển ấy diễn ra mạnh mẽ trong giai đoạn 1897-1929. Theo tư liệu, khu mỏ Quảng Ninh lúc này có hơn 36.000 thợ mỏ, trở thành một trong những nơi tập trung đông công nhân. Phần lớn làm việc tại hai công ty lớn là Công ty Pháp mỏ than Bắc Kỳ và Công ty mỏ than Đông Triều; riêng Công ty mỏ than Đông Triều có khoảng 6.000 công nhân. Nhiều thợ mỏ sống trong các khu lán trại ngay cạnh công trường.

Lực lượng ngày càng đông, nhưng cuộc sống của người thợ vẫn chìm trong cơ cực. Sống trong khu vực “đất nhượng”, công nhân mỏ chịu sự thống trị của chính quyền thực dân và chủ mỏ. Họ thường phải làm việc 10 giờ, có khi tới 12 giờ mỗi ngày với đồng lương ít ỏi; lại bị chủ thầu, cai, giám thị cúp lương, đánh đập. Giá cả đắt đỏ cùng nhiều hình thức bóc lột khác càng đẩy cuộc sống của người thợ vào cảnh khốn khó. Chính hoàn cảnh ấy đã làm nảy sinh những phản kháng, đấu tranh ngay từ những năm đầu của giai cấp công nhân Vùng mỏ.

Không chỉ mang nỗi cơ cực của người làm thuê, người thợ mỏ còn mang nỗi đau của người dân mất nước. Phần lớn xuất thân từ nông dân, họ đến khu mỏ với tinh thần yêu nước đã được hun đúc từ quê hương. Một số từng tham gia nghĩa quân trong phong trào Cần Vương; nhiều người khác chịu ảnh hưởng của các phong trào yêu nước đang diễn ra mạnh mẽ. Bởi vậy, trong người thợ mỏ lúc ấy, sự phản kháng trước áp bức của chủ mỏ dần hòa cùng tinh thần đấu tranh chống thực dân.

Các phong trào chống Pháp ở Quảng Ninh như hoạt động của Hội Thiên Địa, cuộc tấn công chiếm thành Móng Cái, khởi nghĩa Đốc Tít ở Đông Triều, khởi nghĩa Lưu Kỳ... đã tác động mạnh đến lực lượng thợ mỏ. Nhiều người tham gia các phong trào yêu nước, qua đó ý thức dân tộc và tinh thần đấu tranh tiếp tục được bồi đắp.

Ban đầu, các cuộc đấu tranh của công nhân chủ yếu còn tự phát, lẻ tẻ, thiếu tổ chức nên thường bị đàn áp và chưa giành được những quyền lợi căn bản. Qua thực tiễn, người thợ dần nhận ra rằng những phản kháng riêng lẻ không đủ để chống lại sự áp bức của chủ mỏ. Muốn tạo nên sức mạnh, họ phải đoàn kết, tổ chức lại và cùng nhau đấu tranh. Đây chính là bước chuyển quan trọng từ những người phu mỏ riêng lẻ trở thành một lực lượng công nhân ngày càng có ý thức và tổ chức.

Bước chuyển ấy càng rõ nét khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Tại khu mỏ, các chi bộ Đảng lần lượt xuất hiện ở Mạo Khê, Vàng Danh - Uông Bí, Hòn Gai, Cẩm Phả - Cửa Ông. Đến đầu năm 1930, tại hầu hết những nơi tập trung đông công nhân đã có các chi bộ Đảng. Từ đây, phong trào công nhân Vùng mỏ có những chuyển biến rõ rệt về tổ chức và phương thức đấu tranh.

Những người phu mỏ ngày nào không còn là những người lao động đơn độc dưới tầng than. Qua nhiều thập kỷ cùng lao động, cùng chịu áp bức và cùng đấu tranh, họ đã trở thành một lực lượng công nhân đông đảo, ngày càng nhận rõ lợi ích chung và sức mạnh của đoàn kết. Những phản kháng riêng lẻ dần phát triển thành các cuộc đấu tranh có tổ chức, quy tụ ngày càng đông công nhân tham gia.

Sức mạnh ấy tiếp tục được bồi đắp để đến tháng 11/1936, hơn 3 vạn thợ mỏ cùng đứng lên trong cuộc Tổng bãi công lịch sử. Đó không chỉ là kết quả của một phong trào đấu tranh, mà còn đánh dấu bước trưởng thành của đội ngũ công nhân Vùng mỏ sau nhiều thập kỷ hình thành, tập hợp và tôi luyện. Từ những người phu mỏ rời quê kiếm sống, họ đã trở thành một lực lượng đoàn kết, có tổ chức, tạo nên sức mạnh làm nên cuộc Tổng bãi công năm 1936 và hun đúc tinh thần “Kỷ luật và Đồng tâm” - truyền thống quý báu của các thế hệ công nhân Vùng mỏ.

Phạm Tăng
 

 

Chia sẻ bài viết:

Hình ảnh hoạt động

Ca khúc Công đoàn Than - Khoáng sản

Thống kê truy cập

  • Đang online: 1.645
  • Hôm nay: 21.035
  • Tháng này: 711.899
  • Năm nay: 7.424.393
  • TỔNG TRUY CẬP: 44.998.923